Lịch sử Phật giáo

Phật báo hiếu cha mẹ như thế nào?

Báo đáp thâm ân Cha Mẹ, gọi là hiếu đạo. Sau khi thành Phật, Đức Thích Tôn trước về lại hoàng cung độ Cha là vua Tịnh Phạn. Vì sợ vua cha không tin vào Phật pháp, nên Phật bảo tôn giả Ưu Ba Ly đi đến hoàng cung, nhún thân bay vọt lên hư không, hiển bày ra vô số thần thông; Thiên long bát bộ dùng vô số món cúng dường trang nghiêm đến cúng dường Tôn giả. Phật mượn phương tiện này để bẻ gãy lòng kiêu ngạo của vua về sự giàu sang phú quý của mình, đồng thời khích lệ vua an lòng quy y Tam bảo. Như Lai lại dùng trí tuệ siêu việt của mình thuyết minh về chân lý Khổ, không, vô thường cho vua cha nghe. Sau cùng, Phật hướng dẫn phụ hoàng cùng tất cả hoàng tộc họ Thích tu theo pháp môn Tịnh độ, tin sâu, nguyện thiết, nhất tâm xưng niệm danh hiệu “A Di Đà Phật”, cầu vãng sanh về thế giới Tây phương Cực Lạc. Sau thời pháp này, vua Tịnh Phạn đắc được Pháp nhãn tịnh và rất nhiều người trong hội đắc được các quả vị khác.

Lần khác, vì muốn báo ân Mẹ, đức Thích Tôn lên đến cung trời Đao Lợi tuyên giảng “Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện” cho mẫu hậu Ma Da nghe suốt 90 ngày. Toàn bộ Kinh có 13 phẩm, nói tường tận về nhân quả ba đời, nỗi khổ không trong sáu đường, thuyết minh về lòng hiếu hạnh, lòng đại từ đại bi của Bồ tát Địa Tạng từ xưa đến nay và mãi đến ngày sau, luôn cứu độ cùng khắp chúng sanh, nhiếp hóa muôn loài không hề bỏ rơi một ai. Phật bảo các đệ tử lấy kinh này làm kinh báo đáp công ân Cha Mẹ.

Đức Phật báo đáp được ân đức của Cha Mẹ hiện đời, có thể nói là đã “chăm sóc phụng dưỡng được phần đại thể cho Cha Mẹ”, đó là hiếu theo nghĩa rốt ráo. Nhưng nhóm các ngoại đạo, Phạm chí ở Ấn Độ thời bấy giờ nhìn thấy A nan ôm bát khất thực, bèn sanh lòng đố kỵ, chúng tìm cớ chế giễu Tôn giả một cách không kiêng nể: “Cù Đàm thầy ngươi thật là kẻ tệ ác. Nếu không phải thì tại sao mới hạ sinh ông ấy được bảy ngày thì người Mẹ lại bị chết đi? Đã vậy, ông ta lại còn tìm cách trốn khỏi hoàng cung, khiến cho vua cha đau khổ đến nỗi mê man ngất xỉu xuống đất, phải lấy nước dội vào mặt đến bảy ngày sau mới có thể tỉnh lại. Vừa tỉnh liền hỏi: “Con ta đâu rồi?” Hỏi xong lại khóc rống lên, nước mắt giàn giụa than rằng: “Đất nước này là của con, phụ hoàng chỉ có mình con, tại sao con lại nỡ bỏ phụ hoàng tìm vào tận chốn rừng sâu chứ?” Cù Đàm thầy ngươi không màng gì đến thâm ân, nhẫn tâm tiến thẳng về phía trước, thật là một kẻ đại bất hiếu.” A nan nghe vậy, trong lòng cảm thấy xấu hổ. Khất thực trở về, A nan đi đến chỗ Phật, chấp tay bạch Phật rằng: “Kính bạch Thế Tôn, trong Phật pháp có điều nào nói về công hạnh hiếu dưỡng Cha Mẹ không?” Đức Thế Tôn đoán biết được có việc trọng đại xảy ra trong tâm người đệ tử, Ngài vui vẻ mỉm cười, từ giữa trán phóng ra một luồng hào quang ngũ sắc chiếu khắp cả mười phương thế giới. Các vị Bồ tát lớn nương theo ánh sáng ấy cùng nhau đi đến núi Kỳ Xà Quật trong thành Vương Xá, cầu thỉnh Đức Thế Tôn rộng nói “Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân”.

Đại ý Kinh đó như sau: Trong vô số kiếp về quá khứ, có một vì vua tên Ba La Áo bị gian thần La Hầu giết hại, đồng thời kẻ bạn tàn giết còn luôn hai người con trai của vua, đày người con thứ ba ra biên thùy, định bụng sẽ bức tử trên đường đi. Vị hoàng tử này dẫn theo vợ và đứa con trai nhỏ Tu Xà Đề vội vàng tìm cách trốn sang nước láng giềng, nhưng không may họ bị lạc đường, hết tuyệt lương thực, không thể đi tiếp. Quan binh truy sát sau lưng, thế là người chồng quyết định giết vợ để hai Cha con lót dạ đi tiếp về phía trước. Thái tử đau xót cầu thỉnh Cha đừng giết Mẹ mà hãy cắt lấy thịt của mình. Cứ thế, mỗi ngày cắt một ít, khi gần đến nước láng giềng thì thịt trên thân thái tử cũng đã hết. Thái tử dũng cảm bảo Cha hay moi tìm trong xương của mình may ra còn chút thịt để đỡ lòng, Thái tử kiệt sức ngã xuống. Người Cha đến được nước láng giềng, quốc vương nghe chuyện về lòng hiếu thảo của Thái tử đã vô cùng cảm động, lập tức phái bốn bộ binh phò vua về phục nước. Khi đến chỗ Thái tử nằm lại trước kia thì lạ thay … đã thấy Thái tử phục hồi lại nguyên hình như trước, lại còn trở nên đoan chính bội phần. Lúc này mọi người mới biết lòng chí hiếu của Thái tử đã cảm động đến trời, nên được Đế Thích ngầm theo bảo hộ. Sau khi lấy lại đất nước, trị tội kẻ nghịch thần, vua liền truyền ngôi lại cho thái tử Tu Xà Đề. Phật bảo A nan: “người Cha lúc đó, nay là phụ vương Tịnh Phạn; người Mẹ là mẫu hậu Ma Da; còn thái tử Tu Xà Đề nay là ta đây.”

Từ câu chuyện trên, chúng ta có thể thấy Đức Thích Tôn từ vô số kiếp về trước đã vì tất cả chúng sanh mà làm những hạnh khổ khó làm, hiếu dưỡng Cha Mẹ đến nỗi không màng hy sinh thân mạng. Tấm lòng hiếu thảo ấy, sự báo đáp thâm ân cao cả ấy của Đức Thế Tôn hàng phàm phu ngoại đạo có thể thấu hiểu được chăng? Người đời mỗi lần nhìn thấy người xuất gia cắt ái ly thân, bỏ nhà theo thầy là liền phê phán theo sự suy nghĩ nông cạn của mình, cho rằng người đó bất hiếu, là đứa nghịch tử hư đốn. Chẳng lẽ người xuất gia đều là những người không muốn hiếu dưỡng Cha Mẹ ư? Tuyệt đối không phải vậy. Trong Luật Phật chế: “Muốn xuất gia, trước phải thưa qua Cha Mẹ, đồng thời tìm người trong anh em con cháu gởi gấm lo cho Cha Mẹ, được sự đồng ý của lịnh thân rồi, sau đó mới được xuất gia; nếu không, thì không được xuống tóc. Nếu sau khi xuất gia, những người được ủy thác có việc không thể tiếp tục lo cho Cha Mẹ được, Cha Mẹ không còn ai để nương tựa thì người con xuất gia được phép lấy bớt những vật dụng của mình phụng dưỡng cho Cha Mẹ.” Thiền sư Tông Di ở Trường Lô có một người Mẹ không nơi nương tựa, thiền sư liền đón Mẹ về phụng dưỡng trong căn phòng phía đông phương trượng, khuyên Mẹ hằng ngày niệm Phật, cầu sanh Tịnh độ. Trải qua 7 năm như thế, một hôm Mẹ Ngài niệm Phật mà được vãng sanh. Lại có thiền sư Đạo Phi ở Trường An, Cha chết vì đánh trận, gặp năm mất mùa, Sư liền cõng Mẹ vào núi Hoa sơn, ở trong am vắng, hằng ngày mang thức ăn khất thực được về nuôi Mẹ. Mùa đói qua đi, Thiền sư quay về chiến trường Hoắc sơn tìm hài cốt của Cha. Qua mấy ngày tìm kiếm, hài cốt người Cha bỗng từ trong đống xương trắng vọt ra, hướng thẳng về phía trước, thiền sư liền bọc hài cốt lại, cõng Cha về quê nhà an táng.

Là đệ tử xuất gia của Phật, rốt cuộc phải báo hiếu Cha Mẹ như thế nào? Nếu Cha Mẹ còn sống thì khéo khuyến khích, làm cho Cha Mẹ trì trai giữ giới, niệm Phật cầu sanh Tây phương; nếu Cha Mẹ đã mất thì chí thành hồi hướng công đức tu trì tụng niệm hằng ngày của mình cho Cha Mẹ, nguyện Cha Mẹ vĩnh viễn thoát ly khỏi cõi đời năm trược, chứng quả vô sanh, vào dòng bất thoái, rộng độ thoát vô số chúng sanh trong cùng tận kiếp vị lai. Lại nguyện cho mình và người đều được viên thành Phật đạo. Làm được như thế mới là đại hiếu của người xuất gia. Đại sư Liên Trì nói: “Cha Mẹ được xa rời trần cấu, đạo làm con thế mới vẹn toàn”. Đây là từ “hiếu thế gian” chỉ biết sớm hôm phụng dưỡng Cha Mẹ, lo đầy đủ cơm ăn áo mặc mở rộng ra đến “hiếu xuất thế gian” giúp cho Cha Mẹ tin hiểu chánh pháp, có được một cái nhìn cũng như lối hành xử đầy trí tuệ có thể vượt thoát khổ luân hồi trong đời này cũng như cùng tận kiếp về sau. Tiến thêm một bước, người con mở rộng đối tượng báo hiếu từ Cha Mẹ của mình ra đến vạn loại chúng sanh. Khi tâm hiếu trùm khắp pháp giới như vậy thì đương nhiên Cha Mẹ cũng sẽ có mặt ở trong đó, không chỉ Cha Mẹ mà tất cả hữu tình đều thừa hưởng được công đức tu hành hồi hướng của chúng ta. Đó chính là đại hiếu của người xuất gia vậy!

Thông Trường (dịch)

----------------------------
“Tâm hiếu là tâm Phật,
Hạnh hiếu là hạnh Phật.”

Nhiếp cả sáu căn
Tịnh niệm tiếp nối
Bất lập phương tiện
Tự đắc tâm khai.

Hoạt động
Phật Sự

Trợ Duyên

    Thống kê

    Tổng lượt truy cập983995
    Đang truy cập82
    logo footer

    CHÙA HẢI QUANG
    71/13 NGUYỄN BẶC (Khu Chợ Phạm Văn Hai ), P.3, Q.Tân Bình,TP. HCM
    Điện thoại: 08.3.842.0597 - 08.3.991.6689
    Bản quyền thuộc về Chùa Hải Quang