Những bài dịch

Luân lý quan của Phật giáo

Luân lý (điều lý, lề lối) là thứ tự và thỏa thuận ngầm giữa người với người, là quy tắc dựa vào trường hợp thân phận không giống nhau và có sự tôn kính. Sách Trung Quốc nói: “Luân lý” có rất sớm từ thời “ Mạnh Tử”, sau đó kiến lập “Ngũ luân” và trở thành mục tiêu xã hội lý tưởng của người Trung Quốc.


Khi Phật giáo hoằng truyền và bén rễ phát triển tại Trung Quốc, nhiều người cho rằng Phật giáo chỉ coi trọng tư tưởng xuất thế, bỏ sót sự quan tâm đối với loài người. Sự thật thì giáo lý Lục độ, Tứ nhiếp pháp, Tứ vô lượng tâm… đều xúc tiến mối quan hệ dung hợp giữa người với xã hội. Những phân biệt dưới đây nói rõ cách nhìn (quan điểm) mối quan hệ luân lý của Phật giáo đối với tăng đoàn, tín đồ, bạn bè, công tác, giữa mình và người v.v.

1- Luân lý Tăng đoàn

Sau sự kiện Phật đà hóa độ năm vị Tỳ kheo thành lập tăng đoàn, lấy “Ngã” làm quan niệm lãnh đạo Tăng đoàn, xướng ngôn Phật bình đẳng. Theo đó, đệ tử Phật ngày một tăng lên, khiến Tăng đoàn thanh tịnh hòa hợp, Phật đà bèn lấy “Phạm giới ở đâu chế luật đến đó” làm phương thức quy định giới luật, tạo thành luân lý quy phạm Tăng đoàn.

Sau khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, dần dần phát triển thành chế độ tòng lâm. Nhất là sau khi Mã Tổ sáng lập tòng lâm, Bách Trượng lập thanh quy thiền tông, thì những quy tắc tòng lâm như: 48 giới khinh, những việc truyền pháp, truyền giới, môn phái, thanh quy…trở thành kỷ cương để Tăng đoàn đâm chồi đứng vững cùng chế độ nhân sự, nghi lễ sinh hoạt v.v. Giống như lề lối chức sự, dưới “trụ trì” có “giám tự”, các ban phụ trách, trên dưới đều có thứ lớp. Ngay đến việc nhân sự hoặc có “giới lạp” theo thứ tự trước sau, hoặc quy định người vào chùa trước sẽ làm sư huynh. Do vậy, không lấy tuổi tác để xét lớn nhỏ, mà lấy việc vào tòng lâm tu học trước, lấy việc thọ giới trước xưng làm sư huynh, từ đó phá bỏ quan niệm thông thường đối với truyền thống “thứ tự mới cũ”.

Lại như câu chuyện trong lịch sử Phật giáo. Bồ tát Văn Thù là thầy của 7 vị Phật. Tuy ngài ngồi trước Phật Thích Ca Mâu Ni nhưng lại tuân thủ lễ bái với thân phận mình là đệ tử. Sự hỗ tương lớn nhỏ giữa thầy trò nhị vị Cưu Ma La Thập và Ban Đầu Đạt Đa đã truyền lại thành nét đẹp của “thứ tự chỗ ngồi”. Thiện Tài Đồng Tử đi tham học thiện tri thức ở khắp nơi, không có phân biệt nam nữ. Diệu Huệ đồng nữ thành đạo lúc 8 tuổi, là vị phụ nữ thành đạo điển hình. Pháp sư Ấn Tông thế độ cho Huệ Năng, sau đó lại lạy Huệ Năng làm thầy. Sự tôn ti pháp chế này khiến người tán thán về việc làm như trên của pháp sư đã nói rõ luân lý quan “Y pháp bất y nhân” của nhà Phật, thật sự vượt qua những tình cảm thế gian thông thường.

Đạo tràng Phật Quang Sơn duy trì nguyên tắc “tập thể cùng làm, chế độ lãnh đạo”, y theo giới lạp, học vấn, tuổi tác đặc thù mới có thể xếp hạng, không xếp theo chế độ đẳng cấp thứ tự, mà dựa vào sự phát tâm tinh tấn, thành tựu trên con đường sự nghiệp, đạo nghiệp, tu học của cá nhân làm chỗ y cứ để thăng chức. Chế độ chức sự “ Một nhiệm kỳ 3 năm”, cá nhân không tham quyền cố vị, không lạm quyền, thường trú cũng có thể bổ nhiệm vị trí theo tài năng, theo sự tận tâm và tài năng của họ, khiến nhân lực được vận hành như dòng chảy thông suốt, không cứng nhắc. Loại hình an trí chức vụ hành chính như vậy, một mặt tôn trọng tài sản quý giá, coi trọng kinh nghiêm nghiệm truyền thừa; mặt khác thì dựa vào phẩm chất đạo đức, học thức, đề bạt người trẻ tiến thân sau này, làm cho chiếc nón phát huy được sở trường, khiến cho giáo đoàn được phát triển muôn đời.

2/ Luân lý Tăng già và Tín đồ

Cái gọi là “tài thí, pháp thí…”vô sai biệt. Ở thời Phật giáo nguyên thủy, hàng Tăng lữ cần phải đi khất thực để duy trì sắc thân, truyền giảng Phật pháp, kết duyên với người bản xứ và tín đồ. Tín đồ khiến cho Tăng chúng an tâm hành đạo, bố thí tịnh xá, giảng đường. Sau khi Tăng đoàn an cư sống cố định một chỗ, người người có thể đến đó tu học, sự qua lại Tăng tín đồ càng trở nên mật thiết.

Đạo chung sống của Tăng tín đồ là:

- Giảng dạy Phật Pháp, giữ gìn gia đình hòa thuận, khuyến khích phát tâm, yêu gia đình người khác, khuyên người làm ăn chơn chánh, vui vẻ cần cù, truyền thọ Phật Pháp, tăng thêm tín tâm về sanh, bệnh, già, chết; khai đạo cho người, trừ bỏ nhân ngã phiền não, hóa giải mọi vấn đề v.v. Ngoài ra, cần tăng thêm sự giáo dục tín đồ như chủ động chào hỏi, tươi cười vui vẻ, quan tâm thân thiết, tôn trọng nhân cách, hỏi thăm an ủi, giải quyết khó khăn, phục vụ nhiệt tình, khích lệ tán thán, thiết chế hoàn thiện, kiến nghị có trí tuệ v.v.

Đạo tiếp Tăng chúng của Cư sĩ tại gia là:

Tứ sự cúng dường, cung kính tôn trọng, thỉnh chuyển pháp luân, tùy duyên học tập, tuyên dương thánh đức, tán thán đạo hữu, hộ trì đạo nghiệp, giúp người tu đạo, tùy duyên tu hành, tăng ích phẩm đức, khiến người không phạm sai lầm, an tâm làm việc đạo.

“Tự viện” là trạm tiếp dầu của chúng sanh, cũng là nhà huệ mạng của mình. Tăng lữ lấy nhiệt huyết phục vụ, phụng hiến chính mình, tín đồ hộ trì chánh kiến, tôn trọng Tăng đoàn, Tăng tín đoàn kết hòa hợp, dắt nhau  trên đường đạo Bồ đề.

3/ Luân lý Bạn bè

Từ những việc: “Ở nhà dựa vào cha mẹ, ra ngoài nương tựa bạn bè”, thông thường người ta đều dựa vào sự đứng đắn và quyến luyến chung tình. Người tu đạo cũng hâm mộ thích tình pháp lữ giữa Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên. Bạn bè là sức mạnh ủng hộ qua lại giữa người với người. Trong kinh tỷ dụ: Có bạn như hoa, như cái cân, có bạn chỉ tôn trọng vì địa vị, quyền lực, hoàn toàn quan hệ vì lợi lạc. Nhưng cũng có người bạn như núi cao - đất rộng, có tâm chịu đựng, bao dung rộng lớn, một sự giao tiếp có đạo nghĩa. Ngoài ra, trong Kinh cũng nói rằng thiện hữu giúp đỡ ta khi gặp khó khăn, khuyên nhủ ta vượt qua hoạn nạn; còn bạn ác thì bên ngoài hiền thiện nhưng bên trong thì tâm ác, họ uống rượu làm vui, không bàn việc sanh tử.

Làm sao có thể bảo hộ được Thiện hữu? Phật đà truyền giảng có 7 phương pháp như: khó chết có thể chết vì bạn, khó làm có thể làm vì bạn, khó nhẫn có thể nhẫn, lời nói đi cùng việc làm, không vạch tội người khác, gặp khổ không xả, không khinh kẻ thấp hèn. Phật đà lấy ví dụ về vườn lan và cá ướp để dẫn dụ sự ảnh hưởng tập khí lẫn nhau của bạn bè: hoặc huân tập hương thơm, hoặc ngửi mùi hôi thối, hoặc dựa vào sự chọn lựa theo chánh kiến của mình.

4/ Luân lý làm việc

Công việc là dựa vào sự sinh hoạt của mọi người. Có người làm ăn nuôi dưỡng cuộc sống gia đình, có người từ trong thực tiễn của mình, có người chỉ mong qua ngày cho xong việc, cũng có người dốc hết sức mình để nổ lực hoàn thành. Nếu muốn sự nghiệp có phần thành tựu, ngoại trừ việc vui vẻ rộng kết thiện duyên, phải cần mẫn dè sẻn. Lề lối làm việc cũng là điều kiện không thể lơ đễnh. Để thân mình vào việc quản lý, khi cùng đồng nghiệp làm việc, cần phải làm đến chỗ: Quan tâm công tác của nhân viên, không để xảy ra việc lao lụy quá đáng, quan tâm từ chỗ ở đến việc ăn uống của nhân viên, chia xẻ các  công việc phúc lợi xã hội cùng nhân viên.

Những việc chủ quản là trung tâm lãnh đạo, trừ việc hăng say với nhân viên bộ phận phụ trách, phải kiện toàn chính mình như phải có tính khí bao dung, dũng mãnh gánh vác, trí tuệ quyết đoán, chủ động tinh thần, không xem thường hậu học, không đùn đẩy trách nhiệm, không có tâm hiềm nghi, không tranh với lãnh đạo…Những chuẩn tắc làm việc như trên có thể nhận được sự ủng hộ của đại chúng.

Ở phương diện khác, các nguyên tắc dành cho đạo hữu nhân viên và chủ quản cùng làm việc như:

+ Bị la rầy không giận, làm việc không dây dưa, không trái nghịch chỉ thị, không giấu diếm mọi việc, xử chúng không đặc quyền, tôn trọng việc làm, không làm ăn dối trá, tích cực nhưng không rệu rã, không đầu cơ (ăn ý) qua lại, không làm người khác đơn độc, làm việc không cứng nhắc, tư tưởng không cũ kỹ, xử thế không cực đoan.

+ “Công việc” khiến người khai phát được các tiềm lực đời sống, thể hiện các giá trị cuộc sống. Chỉ có phát huy lòng nhiệt tình, tôn trọng lề lối công tác, dụng tâm bắt tay vào công việc thì đời người sẽ càng có ý nghĩa.

5/ Luân lý Cá nhân Tập thể

Phật giáo nói: “Đồng thể cộng sanh” là chỉ vũ trụ vạn vật đều là chúng duyên hòa hợp cùng tồn tại với nhau, cũng là quần thể động vật, bất kể là tất cả vật dụng ăn, mặc, ở, đi…đều là sự thành tựu hỗ tương của đại chúng mà có. Nhất là thời buổi Tin học hiện đại phát triển, người ta ai cũng không thể rời bỏ được đại chúng mà tự mình sinh sống. Hơn 2000 năm trước, Phật đà ân cần dạy bảo đệ tử nhập chúng và lễ phép với mọi người chung sống. Chẳng hạn như: Khiêm tốn, biết thứ lớp, không bàn việc ngoài, tâm phải lắng nghe, tín thọ phụng hành… Thời gian tuy đã qua nhanh, đến nay vẫn có sự lợi lạc thực tế như thời xưa.

Luân lý hộ trì và giúp đỡ giữa người với người, bất kể tại thời điểm nào, có thể là do nhiều người tưởng không có tinh thần hóa. Đến việc cân nhắc nặng nhẹ, làm rõ sự lý, không so đo mình với người, như vậy có thể luôn có mối quan hệ luân lý hoan hỷ và hòa giải.

Theo Phật giáo thực dụng 


Hải Châu dịch

Hoạt động
Phật Sự

Trợ Duyên

    Thống kê

    Tổng lượt truy cập7300101
    Đang truy cập47
    logo footer

    CHÙA HẢI QUANG
    71/13 NGUYỄN BẶC (Khu Chợ Phạm Văn Hai ), P.3, Q.Tân Bình,TP. HCM
    Điện thoại: 08.3.842.0597 - 08.3.991.6689
    Bản quyền thuộc về Chùa Hải Quang