Những bài dịch

Phần hai: QUY Y PHẬT MÔN

Hồi thứ mười trong Tây Du Ký kể về Huyền Trang rằng “... Chuyển xuống phàm trần thọ khổ tai, Hạ sanh thế tục vướng trần ai, Đầu thai xuống đất gánh tai nạn, Chưa kịp ra đời đã gặp tai.”. Có lẽ tất cả những tai ương khổ nạn mà ngài phải chịu đều là những hư cấu của tiểu thuyết, thế nhưng có một điểm rất gần với lịch sử, đó là ngài Huyền Trang lúc nhỏ đã thế phát xuất gia. Vậy, cơ duyên nào đã khiến ngài kiên trì quy y cửa Phật cầu học phật pháp? Ngài đã xuất gia trong hoàn cảnh như thế nào?
Phần trước nói đến thi thể Trần Quang Nhị và người hầu sau khi bị bọn cướp vất xuống dòng Hồng giang, người hầu vốn là một kẻ tầm thường, vì thế thi thể vừa bị vất xuống dòng sông thì liền theo dòng nước trôi đi. Còn Trần Quang Nhị vốn là trạng nguyên đương triều, đồng thời sau này lại là phụ thân của ngài Huyền Trang, cho nên không phải là một người tầm thường, vì thế thi thể của ông vừa bị vứt xuống sông thì liền chìm xuống đáy sông nằm yên bất động mà không bị cuốn trôi theo dòng nước. Theo quan niệm truyền thống của người Trung Quốc, bất luận là trên trời, dưới đất, trên không, dưới nước…vv tất cả mọi nơi đều có hệ thống chính phủ của từng nơi ấy, về cơ bản thì đó là những phiên bản ở cõi người. Chủ quản của Hồng giang chính là Long Vương. Dưới Long Vương còn có những thuộc hạ giúp sức để giữ gìn trật tự dưới nước. Lúc bấy giờ có một Dạ xoa dang đi tuần tra dưới nước, bỗng nghe một tiếng động lớn, liền thấy từ trên mặt nước chìm xuống một thây người mà lại nằm yên bất động, y liền lập tức trở về bẩm báo với Long Vương. Long Vương liền ra lệnh cho y đưa thi thể đó về để Long vương xem. Vừa nhìn qua, Long Vương liền nhận ra thi thể đó chính là tân khoa trạng nguyên Trần Quang Nhị.
Câu chuyện tiến triển tới đây hẳn độc giả cũng có thể đoán ra Long Vương chính là con cá chép vàng, chẳng biết vì sao lại bị người đánh cá bắt đem lên bờ, suýt chút nữa thì đã bị làm thịt để nấu canh rồi. Lúc này Long Vương vừa thấy ân nhân cứu mạng trước mắt, lập tức phát ra công văn sai thủ hạ đi đến nơi trú ngụ của Thành hoàng, Thổ địa ở Hồng Châu, hỏi Thành hoàng và Thổ địa để lấy Hồn phách của Trần Quang Nhị. Đợi sau khi hồn quy nguyên thể, Long Vương bèn hỏi rõ nguyên do sự việc, Trần Quang Nhị liền đem chuyện bị hại kể rõ đầu đuôi, Long vương nghe xong, cho Quang Nhị uống một viên “Định nhan châu”- một loại biệt dược lưu giữ nhan sắc của chốn long cung, có thể giữ gìn thân thể mấy mươi năm ở chốn thủy cung mà không bị hư hoại, để đợi ngày trở lại báo thù. Đồng thời lúc này hồn phách của Trần Quang Nhị cũng đã trở lại, Long vương bèn sắp xếp cho ông ta một chức “Đốc lãnh” ở thủy phủ, lo việc quản lý Dạ xoa.
Lúc này trên bờ, Lưu Hồng đã đem Ân tiểu thư đến Giang Châu nhậm chức. Xem ra, Lưu Hồng cũng không phải là tên cướp tầm thường, bởi vì theo trong Tây Du Ký thì không thấy nói đến chuyện y làm quan mà không xứng đáng với chức vụ, ngược lại còn lưu lại ấn tượng tốt với mọi người, đó là y làm việc vô cùng cần mẫn, hăng say chăm lo công việc, thích đi công tác. Y thường xuyên đi công tác xa, mà mỗi lần đi công tác đều có rất nhiều sự việc phát sinh.
Vào một ngày, Lưu Hồng nhân vì việc quan phải đi xa, lúc này Ân tiểu thư chuyển dạ lâm bồn, đau đớn xây xẩm. Đúng lúc Ân tiểu thư choáng váng ngã xuống đất thì đột nhiên nghe được một âm thanh truyền đến bên tai, gọi thẳng tên của cô ta –“ Mãn Đường Kiều”, rồi tự xưng là Nam Cực tiên ông , do Bồ tát Quan Âm phái đến báo tin, nói với Ân tiểu thư rằng đứa trẻ trong bụng của cô ta chính la đứa con của Bồ Tát ban tặng, ngày sau nhất định sẽ là một bâc phi phàm, hoàn toàn không phải là một đứa trẻ bình thường. Đồng thời nói cô cần phải bảo vệ đứa trẻ, nhất định đừng để cho tên tặc Lưu Hồng biết được, nếu không y nhất định sẽ giết chết đứa trẻ này ngay, đồng thời cũng nói cho Ân tiểu thư biết là Trần trạng nguyên đã được Long Vương cứu mạng, tương lai nhất định sẽ có ngày phu thê hội ngộ, phụ tử đoàn viên, mọi việc cần phải nhớ kĩ. 
Ân tiểu thư sau khi tỉnh lại, ghi nhớ kĩ càng những lời đã nghe, đồng thời ngay lúc đó cũng vừa sanh hạ một đứa trẻ, tức là ngài Huyền Trang sau này. Huyền Trang sau khi chào đời thì Lưu Hồng cũng vừa đi công tác trở về. Vừa nhìn thấy đứa trẻ tướng mạo đường đường, còn bản thân thì mày tặc mắt chuột, y biết rằng đứa trẻ nhất định chẳng phải là con của mình cho nên y muốn lập tức đem đứa trẻ dìm xuống nước cho chết đi. Ân tiểu thư lúc đó cũng chỉ biết lên tiếng đồng ý, nhưng lại nói rằng Lưu Hồng vừa đi công tác xa mới về, thôi thì tạm nghỉ ngơi một ngày, đợi đến ngày mai đem đứa trẻ đi dìm chết cũng không muộn. Đối với mọi việc, Lưu Hồng vốn đều nghe lời Ân tiểu thư, cho nên đối với việc này y cũng không phản đối. Sáng sớm hôm sau, căn cứ theo lời Ân tiểu thư thì phải đem đứa trẻ ra sông dìm chết, thế nhưng Lưu Hồng ngay hôm đó lại có công việc phải đi xa, do vì công việc gấp rút nên y lập tức đi ngay. Ân tiểu thư trong hoàn cảnh bất đắc dĩ, liền tìm một chiếc áo bào đem đứa trẻ mới sinh được một ngày gói lại, sau đó cắn ngón tay lấy máu viết một bức huyết thư. Viết xong, Ân tiểu thư còn làm một việc mà người tầm thường không thể nghĩ tới- đó là cô ta nhẫn chịu sự đau khổ của một người mẹ khi phải xa lìa đứa con mà mình mới sinh ra, dùng răng cắn thật mạnh vào ngón chân út của đứa trẻ, bởi vì Ân tiểu thư sợ rằng một mai lỡ như bức huyết thư bị sóng gió cuốn mất đi, mà tung tích đứa trẻ không biết về đâu, cho nên mới cắn vào ngón chân út của ngài Huyền Trang để làm dấu, ngõ hầu thuận tiện cho việc tìm kiếm về sau. Làm những việc này xong, Ân tiểu thư liền đem theo một người hầu tâm phúc đến bên bờ Hồng giang, đem Huyền Trang (đang còn là đứa trẻ) chuẩn bị thả xuống dòng sông. Huyền Trang quả thật không phải là một đứa trẻ tầm thường, vì thế khi sắp đem ngài thả xuống dòng sông thì từ phía xa trôi tới một mảnh gỗ lớn, Ân tiểu thư liền bồng Huyền Trang đặt trên mảnh gỗ, sau đó để cho Huyền Trang cùng mảnh gỗ trôi theo dòng nước.
Huyền Trang ở trên mảnh gỗ trôi theo dòng nước, cuối cùng trôi đến bến sông ở chùa Kim Sơn. Đây là một ngôi chùa nổi tiếng của Trấn Giang. Lúc đó trong chùa Kim Sơn có một vị trưởng lão gọi là Hòa thượng Pháp Minh đang ngồi thiền. Người thực hành thiền định đạt đến cảnh giới tối cao thì đối với ngoại cảnh cho dù phát sinh việc gì cũng không làm xao động tâm trí. Thế nhưng trôi đến trước bến của chùa lại là Huyền Trang thì không phải là việc bình thường. Huyền Trang trôi đến trước bến chùa Kim Sơn, liền dừng ở đó mà không trôi tiếp, đồng thời ngay lúc ấy liền cất tiếng khóc lên. Hòa thượng Pháp Minh đang nhập định, hiển nhiên phương trượng thất cách bờ rất xa nhưng cũng nghe được tiếng khóc của trẻ thơ, nhất thời động tâm, bèn lập tức đi ra bến sông, thấy đứa trẻ đang khóc nằm trên mảnh ván, liền bồng đưa vào chùa nuôi dưỡng và đặt tên là Giang Lưu (nghĩa là “Trôi trên dòng sông” ). Sau khi lớn lên còn cho quy y, xuống tóc làm tăng trong chùa, với pháp danh là Huyền Trang.
Trong chùa, Huyền Trang vô cùng siêng năng, tinh tấn, tu học phật pháp có sự tiến bộ rất lớn. Vào thời xưa, ở các tư viện thường có truyền thống biện luận phật pháp ngay trong chùa, tuy ngày nay những chùa thuộc truyền thống Phật giáo Trung Quốc không còn hình thức điển hình này nữa, nhưng những ngôi chùa thuộc truyền thống Phật giáo Tây Tạng như những ngôi chùa thuộc Lạt Ma Giáo ở Thanh Hải (một tỉnh thuộc Trung Quốc), thậm chí ở Nội Mông Cổ (một khu tự trị thuộc Trung Quốc), vẫn còn lưu giữ truyền thống này. Trong quá trình biện luận, mọi người đem hết sở học, sự lý giải, thể hội của mình đối với Phật pháp ra biện luận với nhau, hình thành một hình thức tranh luận rất có ý nghĩa, cuối cùng đạt đến một cộng đồng lý giải, tức là một sự đồng thuận về lý giải Phật pháp. Trong chùa Kim Sơn, mỗi lần biện luận, hiển nhiên Huyền Trang là người biện luận giỏi nhất, những người bình thường không thể biện luận vượt qua ngài được. Lúc bấy giờ trong chùa có một vị tăng thường hay ăn thịt, uống rượi, lúc bình thường thì không siêng năng đọc sách, xem ra cũng như hạng Lỗ Trí Thâm. Nhân vì biện luận không hơn được ngài Huyền Trang, cho nên sau khi mất bình tĩnh liền lên tiếng mắng Huyền Trang là đồ “Nghiệp súc”, cha mẹ cũng không biết, tên họ cũng không biết mà lại ở trong chùa làm loạn. 
Chữ “nghiệp” là dịch từ tiếng Phạn Karma, tức là chỉ hành vi của cá nhân, trong trường hợp này nhấn mạnh về chỉ hành vi của cá nhân trong kiếp trước. Mắng người khác là “nghiệp súc”chính là cho rằng người ấy kiếp trước thuộc loài súc sanh, chưa từng làm được việc thiện, cho nên mới chịu quả báo ngày nay. Đây là lời nói nhục mạ người khác vô cùng thô lỗ, vô cùng hạ lưu. Thực ra đây cũng chỉ thuần túy là do biện luận không hơn được ngài Huyền Trang, cho nên trong lúc tức giận mà phát ra lời như vậy, thế nhưng câu nói này vô tình đã hé lộ ra thân thế của ngài Huyền Trang. Sau khi nghe xong, đương nhiên Huyền Trang vô cùng kinh ngạc, liền vừa khóc vừa đi tìm bổn sư là hòa thượng Pháp Minh. Vị hòa thượng này vốn là bặc cao tăng đắc đạo, bất đắc dĩ phải đem lá huyết thư ra đưa cho Huyền Trang xem, đồng thời nói rõ cho Huyền Trang biết về thân thế của mình.
“Huyền Trang sau khi biết rõ về thân thế của mình liền quyết tâm vì cha mẹ mà báo thù. Thế nhưng, Lưu Hồng lúc đó đã là tổng đốc của xứ Hồng Châu, có đủ quyền thế, còn Huyền Trang chẳng qua chỉ là một vị tiểu tăng mà thôi. Vậy Huyền Trang phải làm thế nào mới có thể báo được thù cho cha mẹ mình?”.
Huyền Trang sau khi biết được thân thế của mình, liền rời chùa Kim Sơn, mang tâm trạng đau khổ đi đến nha môn Giang Châu tìm thân mẫu là Ôn Kiều. Nói đến ngày này thì cũng thật là một sự trùng hợp kì lạ, bởi vì ngay ngày hôm đó Lưu Hồng nhân vi có việc công mà đi công tác, trong nhà chỉ còn lại một mình mẹ của Huyền Trang. Ôn Kiều vừa nhìn thấy người đến hoàn toàn giống như Trần Quang Nhị tái sinh, trong phút chốc liền cảm thấy rằng đây chính là cốt nhục của mình. Huyền Trang liền đem bức huyết thư đưa mẫu thân xem, sau đó Ôn Kiều lại tháo chiếc giày bên chân trái của Huyền Trang ra, vừa xem liền thấy thiếu mất một ngón chân út thì biết rằng đây hoàn toàn đúng là con trai của mình. Lúc ấy bà nói với Huyền Trang: bây giờ mẹ trao cho con hai tín vật, một cái là chiếc vòng hương (một loại trang sức mà người xưa thường đeo), con đeo nó vào rồi đi đến Hồng châu cách đây hơn một nghìn dặm, nơi đó chính là nơi năm xưa bà nội con đã tạm lưu trú lại, không biết bây giờ bà có còn sống tại nhân gian hay không, con mau đến đó đón bà về. Ngoài ra, đây là phong thư mẹ viết, con nhanh đến nhà của của ông ngoại con là thừa tướng Ân Khai Sơn ở phía tây điện kim loan trong hoàng thành Trường An, để ông ngoại con bẩm báo với vua Đường phái binh tới bắt Lưu Hồng báo thù cho phụ thân con, đồng thời cứu “lão nương” (mẹ) thoát khỏi miệng hổ. Ở đây nguyên văn dùng chữ “lão nương”(tiếng người mẹ tự xưng với con, thương chỉ dùng với những ngườ tuổi đã cao), đương nhiên lúc ấy Ân Ôn Kiều cũng chỉ khoảng ba mươi sáu, ba mươi bảy tuổi mà thôi, còn chưa phải là “lão nương”, nhưng cô ta vẫn xưng là “lão nương”.
Huyền Trang nhận sự ủy thác của mẫu thân, ngày đêm liên tục đi về hướng bắc, trước hết tìm đến nhà nghĩ Vạn Hoa ở Hồng Châu. Người làm việc cho nhà nghỉ là Lưu tiểu nhị vẫn còn ở đó. Huyền Trang bèn hỏi phải chăng năm đó có một lão thái thái ở lại nơi đây. Lưu tiển nhị bèn trả lời rằng năm ấy có một vị trạng nguyên dẫn theo một vị tân nương đi nhậm chức. Lúc bấy giờ nói rõ là tạm thời để lão thái thái ở lại đây một thời gian nhờ anh ta chăm sóc, ai ngờ thời gian trôi qua đã lâu như thế mà chẳng thấy ai trở lại đón lão thái thái cả. Về sau, lão thái thái nhân vì phí dụng đã hết, không còn tiền trả tiền thuê nhà, hiện tại đang trú trong một góc nhà dột nát. Huyền Trang nghe xong liền lập tức tìm đến nơi bà nội mình đang ở, bà nội của ngài nhân vì ngày đêm nhớ con than khóc nhiều quá cho nên mắt đã bị mù. Thế nhưng khi vừa nghe được tiếng nói của Huyền Trang, bà lập tức cảm thấy rất giống âm thanh của con mình là Trần Quang Nhị, liền đưa tay sờ khắp mặt của Huyền Trang và cũng cảm nhận được ngũ quan cũng rất giống con trai của mình. Huyền Trang lúc ấy bèn đem tất cả sự tình đầu đuôi kể cho bà nội nghe, đồng thời ngay lúc đó phát nguyện tụng kinh niệm chú (Cổ Ấn Độ có rất nhiều loại thần chú như vậy, tụng niệm có thể làm cho mắt sáng trở lại), lại còn dùng chính lưỡi của mình liếm lên trên đôi mắt đã bị mù lòa của bà nội (theo cách nói truyền thống của Trung Quốc, nếu như con hiền cháu thảo liếm vào mắt đã bị mù lòa của người thân thì thường sẽ có kỳ tích xuất hiện), và kì lạ thay mắt của Trần lão thái thái đã sáng trở lại như xưa. Lão thái thái vô cùng sung sướng khi gặp được cháu nội của mình. Huyền Trang sau khi sắp xếp ổn thỏa cho bà nội xong rồi liền lập tức lên đường đi đến kinh thành.
Đến phủ thừa tướng ở kinh thành, nơi ngày xưa Ân tiểu thư gieo cầu chọn chồng vẫn còn, ông ngoại vẫn đang còn là quan lớn của triều đình. Trước cổng tướng phủ có lính canh giữ nghiêm ngặt, không giống như ở nhà nghĩ Vạn Hoa là có thể tự do đi lại. Huyền Trang bèn đem thư của mẫu thân trình lên (với người gác cổng), và nói rằng có một vị tăng là thân thích của thừa tướng muốn vào yết kiến thừa tướng. Đúng lúc Ân thừa tướng đang ở trong phủ, (sau khi nghe trình báo), tự nghĩ rằng nhà mình vốn chẳng có ai thân thích là tăng sĩ. Nói đến đây thì cũng là một sự trùng hợp kì lạ, đó là mẫu thân của Ân tiểu thư - tức là bà ngoại của Huyền Trang, đêm hôm trước nằm mơ thấy con gái và con rể mà mình ngày đêm thương nhớ cho người đem thư đến (Vào thời cổ, tăng sỹ nhân vì thường vân du tứ phương, vì thế cũng thường đóng vai người đưa thư cho mọi người, nên mang theo rất nhiều thư. Trên đường đưa thư, người nhận thư thường sẽ bố thí một ít vật dụng để biểu thị sự cảm ơn. Như thế tăng nhân cũng có thể đảm bảo được vấn đề tiêu dùng vật chất trên đường vân du cầu học.), lúc này liền lập tức mời Huyền Trang vào. Huyền Trang liền đem bức thư mà Ân tiểu thư gửi cho ông ngoại trình lên cho thừa tướng. Ân thừa tướng đọc thư xong, nghĩ mình đường đường là thừa tướng đương triều, gả con gái cho tân khoa trạng nguyên đi làm quan, thế mà thiên hạ lại có kẻ to gan, lớn mật : giết chết rồi vất xác con rể của mình đã đành, lại còn dám cưỡng cướp con gái của mình rồi lại còn dám mạo nhận đi làm quan, mà lại làm quan tới những mười tám năm. Nghĩ đến đây, Ân thừa tướng vô cùng tức giận, ngày hôm sau lập tức vào triều bẩm tấu với hoàng thượng, điều động sáu vạn binh mã thẳng hướng Giang Châu đi bắt Lưu Hồng. Thật không may cho một kẻ thích đi công tác như Lưu Hồng, hôm đó y không đi công tác mà ở trong phủ, thế là liền bị quân của triều đình nội ứng ngoại hợp bắt gọn, sau đó quan quân đi bắt luôn cả Lí Bưu.
Đoạn tiếp theo đương nhiên là theo truyền thuyết dân gian, hoàn toàn không phù hợp với một bậc cao tăng có sự tu dưỡng và lòng từ bi. Lưu Hồng và Lí Bưu sau khi bị bắt, trước hết bị đánh một trăm đùi, đánh tới bán sống bán chết, sau đó đem Lí Bưu đóng vào trên “mộc lư” (mộc lư là một loại công cụ hành hình vô cùng tàn khốc của Trung Quốc thời cổ), chịu hình phạt ngàn mũi dao nhọn lóc thịt đến chết (hình phạt lăng trì). Còn Lưu Hồng đương nhiên không thể được chết dễ dàng như vậy, vì thế bèn áp giải Lưu Hồng đến nơi năm xưa y đã gây án, sau đó cho người mổ ruột moi tim của y để tế Trần Quang Nhị. Long Vương sau khi biết được sự tình bèn lập tức sai Dạ xoa đem Trần Quang Nhị trả về nhân gian. Thi thể đã được uống định nhan châu của Trần trạng nguyên được đưa đến mặt nước, từ từ nổi lên rồi trôi đến hiện trường . Ôn Kiều vừa nhìn thấy thi thể, liền lớn tiếng khóc lên và định nhảy xuống sông, nhưng bị Huyền Trang cản lại. Lúc ấy mọi người cẩn thận nhìn thì thấy chân tay của Trần Quang Nhị bắt đầu cử động, nhân vì hồn phách đã nhập vào thân thể nên không lâu sau, Trần Quang Nhị bơi đến, thế là cả nhà sum họp, vô cùng vui mừng.
Trong phần phụ lục của tác phẩm Tây Du Kí khi kể đến đây thì còn lưu lại một câu làm người đọc cảm thấy vô cùng tàn khốc, bởi vì bất luận thế nào thì Ôn Kiều cũng đã “thất tiết”. Theo truyền thống luân lý của Trung Quốc thì cho dù Ôn Kiều đã nhiều lần muốn chết nhưng vẫn không chết, nhưng cuối cùng thì cũng vẫn “tự tận mà chết”. Đây chính là một điều tàn khốc trong phần phụ lục. Theo truyền thuyết dân gian thì toàn bộ sự việc xảy ra trong phần phụ lục của Tây Du Kí chính là quá trình gặp nạn của Huyền Trang.
“Trong tiểu thuyết Tây Du Kí, Huyền Trang vừa mới chào đời thì trong hoàn cảnh bất đắc dĩ đã bị mẫu thân thả vào dòng sông và được trưởng lão ở chùa Kim Sơn nhặt về nuôi dưỡng, vì thế từ nhỏ đã được xuất gia. Thế nhưng theo lịch sử thì Huyền Trang xuất thân trong gia đình quan viên, vậy thì tại sao ngài lại muốn thế độ xuất gia?”
Theo sử liệu ghi chép, con đường quy y cửa Phật của Huyền Trang là do sự ảnh hưởng từ người anh thứ hai của ngài - pháp sư Trường Tiệp. lúc Huyền Trang khoảng mười tuổi thì song thân ngài nhân bị bệnh qua đời, Huyền Trang bèn theo anh trai đến chùa Tịnh Độ ở Lạc Dương và bắt đầu học Phật pháp.
Lúc mới vào chùa, Huyền Trang chưa được chính thức làm người xuất gia, chỉ có thể làm một chú tiểu tập sự, nhưng ngài vô cùng siêng năng học tập. Năm mười ba tuổi, thật may mắn là gặp được cơ hội: đó là Tùy Dạng Đế - một vị hoàng đế nổi tiếng hoang dâm, ăn chơi xa xỉ của nhà Tùy phát khởi thiện tâm. Tùy Dạng Đế tin Phật, lúc đó liền phái một vị quan viên của Đại Lý Tự (một đơn vị cơ quan hành chính thời cổ) là Trịnh Thiện Quả đến Lạc Dương tuyển chọn người để độ xuất gia làm tăng (Trung Quốc cổ đại có truyền thống là triều đình sẽ tổ chức tuyển chọn người xuất gia làm tăng), tổng cộng tuyển được mười bốn người. Vào đời Tùy cho đến đời Đường, số lượng Tăng nhân đều bị chính phủ khống chế nghiêm mật, nếu không thì sẽ thiếu người canh tác, đi lính, rồi vấn đề đóng thuế lương thực không được bảo đảm, vì thế việc tuyển người làm tăng phải trải qua quá trình tuyển chọn rất là nghiêm cẩn. Vị quan viên Trịnh Thiện Quả này quả là có con mắt hơn người, rất biết tuyển chọn người tài. Tiểu Huyền Trang lúc đó mới mười ba tuổi, theo ghi chép trong cuốn Đại Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện thì lúc ấy Huyền Trang cứ rón rén một bên cửa của trường thi mà không muốn rời bước. Trịnh Thiện Quả chủ trì trường thi xong đi ra cửa nhìn thấy một đứa trẻ tướng mạo khôi ngô, liền hỏi là con cái nhà ai. Căn cứ theo tập quán ngày xưa, khi tự nói về gia tộc của mình thì phải giới thiệu đủ ba đời từ ông cố đến ông nội rồi đến đời cha, lúc ấy Huyền Trang trả lời là hậu nhân của Trần gia ở Dĩnh Xuyên. Trịnh Thiện Quả sau khi nghe xong biết Huyền Trang là con nhà danh môn, liền hỏi Huyền Trang có muốn xuất gia làm tăng hay không? Huyền Trang liền trả lời là muốn xuất gia làm tăng, nhưng vì “sức học còn kém, tu tập còn ít, không đủ tư cách dự thi” (Tập cận nghiệp vi, bất mông tỷ dự), nghĩa là nói bản thân thời gian học phật pháp còn ngắn, công phu chưa đủ (ở đây chữ nghiệp không phải chỉ cho nghiệp trong ác nghiệp mà là nói đến công phu tu tập), không có tư cách tham gia thi tuyển, bởi vì lúc bấy giờ tham gia tuyển chọn có sự quy định về độ tuổi. Huyền Trang từ nhỏ đã rất thông minh, ngài không nói mình không đủ tuổi mà lại nói là do mình thời gian học Phật quá ngắn, công phu tu tập chưa đủ vì thế không đủ tư cách dự thi.
Trịnh Thiện Quả nhận thấy rằng đứa trẻ này không giống với những đứa trẻ bình thường khác, liền hỏi tiếp Huyền Trang vì sao lại muốn xuất gia? Huyền Trang trả lời lại càng phi phàm hơn, vượt ra ngoài dự đoán của người bình thường, ngài trả lời: “Ý dục viễn thiệu Như Lai, cận quang di pháp”; nghĩa là nếu nhìn xa mà nói thì đó là kế thừa giáo pháp của Đức Như Lai, còn nhìn gần mà nói thì đó là làm giáo pháp của Phật ngày càng tỏa rạng. Trịnh Thiện Quả vốn là một tay kiệt xuất trong việc tuyển chọn nhân tài. Phần trên cũng đã nói đến Huyền Trang tướng mạo xinh đẹp, giờ đây Trịnh Thiện Quả đã thưởng thức được công phu tu dưỡng Phật pháp của Huyền Trang, lại thấy Huyền Trang tướng mạo đường đường nên bèn đặc cách cho Huyền Trang được trúng tuyển mà không phải trải qua thi tuyển. Đương nhiên trong hội đồng giám khảo cũng có người chỉ trích, bởi vì toàn bộ Lạc Dương chỉ có được mười bốn chỉ tiêu quý giá, mà Tinh Thiện Quả lại đưa thêm một đứa trẻ vào, vì vậy Trịnh Thiện Quả bèn giải thích với những vị ấy rằng “Tụng nghiệp dị thành, phong cốt nan đắc, nhược độ thử tử tất vi thích môn vĩ khí”, nghĩa là “Nếu chỉ tuyển người lo chuyện tụng kinh gõ mõ thì dễ, còn tuyển được người có khí phách đại thừa thì rất khó, nếu như tuyển chọn đứa trẻ này thì nhất định ngày sau (nó) sẽ thành bậc pháp khí vĩ đại của Phật môn”.
Thời xưa tăng nhân thi tuyển phân làm hai loại, một loại là xem người tham gia thi tuyển có thể viết (đương nhiên là phải thuộc lòng, không được nhìn sách) ra được bao nhiêu trang kinh Phật. Lúc bấy giò kinh Phật được viết trên giấy cuốn, có thể viết thuộc lòng được bao nhiêu trang kinh Phật, đó là một tiêu chuẩn. 
Một loại thi tuyển nữa là có thể sao chép được bao nhiêu trang kinh Phật, rồi xem người đó biết được bao nhiêu chữ, rốt cuộc là có đọc hiểu được văn tự ghi chép trong kinh hay không. Trịnh Thiện Quả nói câu trên có nghĩa là “Công phu ghi nhớ để đọc tụng kinh Phật thì dễ luyện thành, thế nhưng tìm được người có cốt cách phi phàm thì rất khó, nếu tuyển chọn đứa trẻ này thì tương lai nhất định nó sẽ trở thành một nhân vật vĩ đại của Phật giáo. Điều này cũng chứng minh Trịnh Thiện Quả là một người có con mắt hơn người, biết chọn nhân tài tuyệt nhiên không phải là hư danh.
“Cắt đứt ba ngàn dây phiền não, thoát khỏi phàm trần nhập Phật môn. Thế nhưng lúc thế độ Huyền Trang chỉ mới mười ba tuổi – chính là thời kì của trẻ con ham chơi đùa nghịch, vậy thì thiếu niên Huyền Trang có gì khác với những đứa trẻ bình thường khác?”
Huyền Trang sau khi được thế độ ở Lạc Dương, căn cứ theo sự thật lịch sử thì Huyền Trang đương nhiên không hề tu tập ở chùa Kim Sơn, cũng không có chuyện đi tìm mẫu thân, càng không có chuyện có ông ngoại là quan lớn của triều đình, mà sự thật là ngài đã theo anh trai, và trước năm mười chín tuổi Huyền Trang vẫn ở tại Lạc Dương tu học Phật pháp.
Lúc bấy giờ ở Lạc Dương có rất nhiều tự viện và ở các tự viện thường có các bậc cao tăng thăng tòa thuyết pháp. Có lúc chùa này giảng kinh, có khi Chùa kia thuyết pháp, vì thế Huyền Trang thường hay lui tới những nơi đó nghe thuyết pháp, giảng kinh. Trong điều kiện hoàn cảnh Phật giáo thịnh hành ở Lạc Dương, Huyền Trang đã nhanh chóng tiếp thụ Phật pháp, hoàn thiện căn bản kiến thức phật học của bản thân. Lịch sử đồng thời còn ghi chép lại một đoạn bình phẩm về thiếu niên Huyền Trang như thế này: “Rộng thông kinh điển, yêu cổ chuộng hiền, không phải kinh sách chân chánh thì không đọc, không phải lời dạy của các bậc thánh triết thì không tu, không kết giao với những đứa trẻ lêu lổng cùng trang lứa, không bước chân vào chốn náo thị phồn hoa, …không chú trọng sắc tướng, bản tính ôn hòa, chất phác, cẩn trọng.”. 
Vì thế, không bao lâu tiếng tăm của thiếu niên Huyền Trang đã vang khắp trong giới học Phật ở Lạc Dương, khắp nơi ở Lạc Dương đều biết một vị tuổi còn còn rất trẻ được Trịnh Thiện Quả cho đặc cách thế độ làm tăng đích thực là một nhân tài của giới Phật học.
Một Huyền Trang tuổi trẻ, về sau bản thân đã nỗ lực như thế nào để trở thành bậc nhất đại Cao tăng? Quá trình hình thành ý nghĩ sang Tây Trúc cầu pháp như thế nào? Kính mời xem tiếp phần 3 “ Con Đường Cầu Học.”.

Thầy Thích Minh Đức soạn dịch

Hoạt động
Phật Sự

Trợ Duyên

    Thống kê

    Tổng lượt truy cập7300098
    Đang truy cập45
    logo footer

    CHÙA HẢI QUANG
    71/13 NGUYỄN BẶC (Khu Chợ Phạm Văn Hai ), P.3, Q.Tân Bình,TP. HCM
    Điện thoại: 08.3.842.0597 - 08.3.991.6689
    Bản quyền thuộc về Chùa Hải Quang