Những bài dịch

HUYỀN TRANG TÂY DU KÝ

PHẦN 1 Thân thế của Pháp sư Huyền Trang
 
 
 
 
Nguên tác:Huyền Trang Tây Du Ký
Tác giả: Giáo Sư Tiền Văn Trung
Nhà xuất bản: Thượng Hải thư điếm xuất bản xã, tháng 9 năm 2007.
 Ngừơi dịch:Thích Minh Đức
Bắc Kinh tháng 10 năm 2007.
Dẫn nhập

 


Tác phẩm Huyền Trang Tây Du Ký có 2 tập, gồm ba mươi sáu bài giảng đã được giáo sư Tiền Văn Trung giảng trên chương trình “Bách gia giảng đàn” kênh số mười – kênh chuyên về Khoa học và Giáo dục của đài truyền hình Trung ương Trung Quốc và đã được in thành sách do nhà Xuất bản Thượng Hải Thư Điếm xuất bản. Nhận thấy đây là một tập sách hay, rất có ý nghĩa cho những ai có hứng thú nghiên cứu tìm hiểu về cuộc đời của ngài Huyền Trang, đồng thời cũng muốn độc giả có cái nhìn chính xác hơn về nhân vật Đường Tăng trong tác phẩm Tây Du Ký nổi tiếng của Ngô Thừa Ân, mà có lẽ rất nhiều người Việt nam chúng ta dù là phật tử, hay không phải phật tử, dù người lớn hay trẻ em cũng đã dược biết, qua việc đọc truyện dịch hoặc xem truyền hình. Với tâm niệm đó, người dịch đã mạo muội dùng sức học yếu kém của mình chuyền dịch tác phẩm thừ Hán văn thành Việt văn. Công việc phiên dịch từ xưa đến nay luôn luôn là một công việc không phải dễ, vì thế dù đã nỗ lực hết sức mình nhưng trong quá trình phiên dịch không sao tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót. Kính mong quý độc giả rộng lòng tha thứ và chỉ giáo.
Bắc Kinh mùa thu năm Đinh Hợi
Người dịch kính ghi
 
Sơ lược về tác giả
Tác giả tên là Tiền Văn Trung, sinh vào tháng sáu năm 1966, nguyên quán ở Thành phố Vô Tích tỉnh Giang Tô. Năm 1984 thi đậu vào Đại học Bắc Kinh, khoa Ngôn ngữ học đông phương, chuyên ngành Pali và Phạn văn. Từ khi còn là sinh viên đại học năm thứ nhất, tác giả đã bắt đầu viết bài nghiên cứu và đăng trên diễn đàn học thuật, nhận được giải nhất chương trình học bổng “Quý Hy Lâm Đông phương học”. Giũa thập niên 80, tác giả đến Đức du học chuyên ngành Lịch sử văn hóa Ấn Độ và Tây Tạng tại Đại học Hamburg. Ông đã theo thọ giáo các vị giáo sư nổi tiếng về Ấn Độ học như giáo sư A. Wezler, về Phật học như giáo sư L. Schmithausen. Ông chuyên nghiên cứu về Ấn Độ học, ngoài ra còn nghiên cứu về Tạng học và Iran học. Thập niên 90. Ông ở nhà dành thời gian năm năm chuyên tâm nghiên cứ về văn học sử. Năm 1996, giảng dạy ở khoa lịch sử trường đại học Phúc Đán (Thượng Hải). Hiện nay ông là Giáo sư Khoa lịch sử của trường Đại học Phúc Đán, là giáo sư hướng dẫn của Trung Quốc Văn hóa Thư viện, ủy viên nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu văn hóa thuộc Đại học Sư phạm Hoa Đông, là giáo sư thỉnh giảng của Học viện Điện ảnh Bắc Kinh, phó hội trưởng Hội nghiên cứu Quý Hy Lâm, ủy viên biên tập ccủa ban biên tập “Nho Tạng” thuộc Đại học Bắc Kinh. Những trước tác gồm có: “Ngõa phủ tập”, “Mạt na quy y”, “Quý môn lập tuyết”, “ Thiên Trúc dữ Phật Đà”, “Quốc cố tân tri”, “Nhân văn đào hoa nguyên”, “Huyền Trang Tây du ký”, “Ba lợi văn giảng cảo”. Tác phẩm dịch gồm: “Hội họa dữ biểu diễn” (Dịch chung), “Đường Đại Mật tông”, “Đạo, Học, Chính”. Ngoài ra còn biên tập và chỉnh lý về tư liệu cổ hơn mười lọai, có hơn một trăm bài viết, các bài nghiên cứu đã được đăng trên các tạp chí nghiên cứu.
Trong bộ Cổ điển tiểu thuyết Tây du ký, thân thế của Pháp sư Huyền Trang được miêu tả mang đầy sắc thái truyền kỳ. Thân phụ của Ngài Huyền Trang vừa trải qua niềm vui của việc Kim bảng dề danh, hôn sự mỹ mãn, thì gặp phải thảm kịch phong ba bão táp, thân thể bị ném xuống sông sâu, khiến Huyền Trang chưa kịp chào đời thì đã bắt đầu chịu cảnh nạn khổ. Thế nhưng trên phương diện sự thật của lịch sử thì ngài Huyền Trang có thân thế như thế nào? Thân thế của Ngài Huyền Trang được miêu tả trong tiểu thuyết là hòan tòan hư cấu hay là dựa vào cơ sở nào? Ngài là người đã trải qua những khảo nghiệm nhân sanh như thế nào mà dám một mình đi tới Ấn Độ - một nơi vô cùng xa xôi, trải qua 17 năm cả đi lẫn về để học tập, thỉnh kinh.

Câu chuyện về bốn Thầy trò Đường Tăng sang Tây Phương thỉnh kinh thì dường như tất cả mọi người ai cũng biết. Nhưng sự khác biệt giữa Đường Tăng với Tôn Ngộ Không, Trư bát Giới, Sa Hòa Thượng chính là, Đường Tăng là một nhân vật có thật trong lịch sử. Ngài là một Cao Tăng vĩ đại ờ đời nhà Đường, tên tục là Trần Huy, pháp hiệu là Huyền Trang pháp sư. Ngài từng lội suối trèo non, băng qua sa mạc, vượt qua hơn 10 vạn (100.000) dặm, trải qua thời gian 17 năm, đi đến Ấn Độ học tập, thỉnh kinh, và còn trước tác cuốn Đại Đường Tây Vực Ký vô cùng có giá trị cho giới học thuật nghiên cứu, khảo cổ vv. Có thể nói Ngài là một Nhà Phật Học, một Nhà Phiên Dịch, một nhà Lữ hành vĩ đại nhất không chỉ của Trung Quốc mà là của tòan thế giới.

Căn cứ theo lịch sử ghi lại, hơn 1400 năm trước, vào đời nhà Đường, Pháp Sư Huyền Trang một mình đơn thân độc mã, vượt qua vạn dặm xa xôi, băng qua núi tuyết, vượt qua sa mạc, trải qua thập tử nhất sinh để đi đến Ấn Độ. Vì thế nói Ngài là một nhà Lữ hành vĩ đại thì cũng không sai một chút nào.

Nói Ngài là một nhà phiên dịch vĩ đại thì thế nào? Điều này thì không có gì phải bàn cãi. Bởi vì Ngài vừa là một phiên dịch, đồng thời cũng là một người chủ trì của Dịch trường phiên dịch hơn 1300 (một ngàn ba trăm) quyển kinh điển Phật giáo. Vả lại phiên dịch kinh diển Phật giáo là một công việc vô cùng khó khăn và phức tạp, bởi vì Ngài phải dịch từ Phạn văn – một ngôn ngữ mà hiện tại được công nhận là phức tạp nhất và khó khăn nhất, thành Hán văn. Tại “Kim Lăng khắc kinh xứ” (nay thuộc nội thành thành phố Nam Kinh) tổng tập xuất bản tòan bộ tác phẩm phiên dịch của ngài Huyền Trang là hơn 400 quyển (quyển ở đây là quyển sách theo cách nói của Việt Nam, không phải là quyển theo cách nói của người Trung Quốc. Người dịch chú). Như vậy không chỉ trước tác bằng bản thân, mà là vượt lên trên cả bản thân. (Đây là một cách dùng thành ngữ của Trung Quốc, có nghĩa là những tác phẩm phiên dịch của ngài nếu xếp lại còn cao hơn cả người của Ngài. Người dịch chú.). Đồng thời ngài Huyền Trang còn làm một việc phi phàm nữa đó là, không những Ngài chỉ phiên dịch kinh điển Phật giáo từ Phạn văn sang Hán văn mà Ngài còn đem tác phẩm “Đạo đức kinh” của Lão  Tử, và bộ “Đại thừa khởi tín luận”(Có thuyết cho rằng đó là tác phẩm được viết tại Trung Quốc, có thuyết cho rằng Phạn bản đã mất) dịch thành Phạn văn. Nhưng thật đáng tiếc là hai tác phẩm phiên dịch sang Phạn văn này ngày nay chúng ta không có cơ duyên để thấy, thế nhưng lịch sử ghi rõ là ngài Huyền Trang đã dịch hai tác phẩm này.

Nói Ngài Huyền Trang là một nhà Phật học vĩ đại thì lại càng không có điều gì phải bàn cãi nữa. Ngài là người đã sáng lập ra Pháp Tướng Duy Thức Tông, là một bậc Đại Sư khai Tông lập phái của Phật giáo Trung Quốc, càng không cần phải nói Ngài đã từ Ấn Độ xa xôi – mà đương thời là Trung tâm Phật giáo lớn nhất của cả thế giới, đem về Trung Quốc rất nhiều tư tưởng, lý luận mới của Phật giáo mà có thể nói là lúc bậy giờ ở Trung Quốc chưa có.
Thế nhưng, rất ít người gọi Ngài Huyền Trang là một Văn học gia vĩ đại. Thế nhưng cho dù Ngài phải hay không phải một văn học gia vĩ đại đi nữa thì có một điều vô cùng rõ ràng là: Nếu như không có Ngài Huyền Trang, không có Ngài Huyền Trang đi sang Ấn Độ cầu học, thỉnh kinh thì bốn bộ tiểu thuyết cổ điển nổi tiếng của Trung Quốc ( Trung Quốc gọi là Tứ Đại Danh Trước gồm Hồng Lâu Mộng, Tây Du Ký, Tam Quốc Diễn Nghĩa và Thủy Hử, người dịch chú) nhất định sẽ không có Tây Du Ký. Vì vậy cho dù chúng ta không gọi Ngài là một văn học gia vĩ đại thì Ngài cũng là một nhân vật có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với văn học Trung Quốc.

Cũng chính vì như vậy mà từ xưa đến nay, từ trong nước đến nước ngòai rất nhiều chuyên gia, học giả đều có những đánh giá rất cao về ngài Huyền Trang. Vị hoàng đế kiệt xuất của nhà Đường là Đường Thái Tông cũng từng nói: “Có Pháp Sư Huyền Trang, là có lãnh tụ của pháp môn vậy”, và hình dung Huyền Trang là “Thiên cổ không có ai sánh bằng”, cũng có nghĩa là nhân vật thiên cổ vô song, người như Ngài thì ngàn năm chỉ có một. Lỗ Tấn trong phần trọng yếu của tác phẩm “Người Trung Quốc mất đi sức mạnh của sự tự tin rồi sao?” (Trung Quốc nhân thất điệu tự tín lực liễu ma?) cũng đã    từng nói: “Chúng ta từ xưa tới nay từng có nếm mật nằm gai, có người dù chết vẫn giữ lòng trung kiên, có người quên mình vì dân, có người xả thân cầu pháp,......tuy là họ không giống như các bậc đế vương, khanh tướng được ghi vào Chánh Sử, nhưng như thế cũng không làm mất đi sự vinh quang của họ, đó chính là cái cốt tủy của người Trung Quốc. Trong  những người “Từ xưa đến nay” đó đường nhiên là bao gồm cả ngài Huyền Trang mà không có một chút nghi ngờ nào cả. Trên phương diện quốc tế thì những đánh giá về Ngài Huyền Trang cũng vô cùng tôn kính và nể phục. Có một số học giả nói rằng, lịch sử Ấn Độ còn thiếu ngài Huyền Trang một món nợ, vậy vấn đề như thế nào mà có người lại nói như vậy? Sự thật thì nói như vậy cũng không phải là quá đáng; có một số học giả còn biểu hiện một cách rõ ràng rằng: “Nếunhư không có ngài Pháp Hiển đời nhà Tấn, ngài Huyền Trang đời nhà Đường, ngài Mã Hoan đời nhà Minh, thì lịch sử Ấn Độ không thể khôi phục lại được. Bởi vì văn hóa của Ấn Độ có những điểm không giống với văn hóa của người Trung Quốc. Quan niệm về lịch sử và quan niệm về thời gian của người Ấn Độ có rất nhìêu khác biệt với quan niệm về lịch sử và quan niệm về thời gian của người Trung Quốc.

Ngài Huyền Trang tên tục là Trần Huy, còn gọi là Đường Tăng. Ngài từng lội suối trèo non, băng qua sa mạc, vượt qua hơn 10 vạn (100.000) dặm, trải qua thời gian 17 năm, đi đến Ấn Độ học tập, thỉnh kinh, và còn trước tác cuốn Đại Đường Tây Vực Ký vô cùng có giá trị cho giới học thuật nghiên cứu, khảo cổ vv. Con đường Tây hành của ngài Huyền Trang được người thời nay gọi là con đường tìm cầu tri thức được xây dựng bởi niềm tin, sự kiên trì và trí tuệ, là một bức tranh tả thực về sự dung nạp văn hóa của một dân tộc có tính khí cởi mở. Pháp sư Huyền Trang đựơc xưng tán như vậy, rốt cuộc là một người như thế nào?

Một con người vĩ đại như vậy, cho nên khi chúng ta muốn nói về thân thế của Ngài thì cũng không có gì trở ngại nếu đem bộ truỵên Tây Du Ký mà mọi người đều thích cùng với những tư liệu liên quan đến Ngài Huyền trang được lịch sử ghi chép kết hợp lại rồi cùng nhau đưa tâm tư đi ngược lại thời gian hơn ngàn năm trước, vượt ra ngoài không gian vạn lý, truy tìm lại lịch trình mà Ngài đã đi qua.

Trong tiểu thuyết Tây du ký, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Hòa Thượng và ngay cả con ngựa Bạch Long Mã mà Đường Tăng cỡi cũng đều có lai lịch rất rõ ràng, duy chỉ có nhân vật chủ yếu của tác phẩm là Ngài Huyền Trang thì thân thế của Ngài lại không được tác giả giới thiệu rõ ràng. Cho đến hồi thứ mười một của Tây du kí thì mới nói tới ba vị đại thần vâng lịnh của Đường Thái Tông, trên phạm vi toàn quốc tuyển chọn một vị cao tăng đảm nhận vai trò lãnh đạo của toàn thể Phật giáo Trung Quốc, và cuối cùng đã tuyển được ngài Huuyền Trang. Đến lúc này trong tác phẩm Tây Du Ký mới bất ngờ xuất hiện một đoạn nhỏ thế này:
“…………………………………
Chuyển xuống phàm trần thọ khổ tai
Hạ sanh thế tục vướng trần ai
Đầu thai xuống đất gánh tai nạn
Chưa kịp ra đời đã gặp tai.
Trạng nguyên Hải Châu Trần thân phụ
Ông ngọai đứng đầu tướng triều đình.
…………………………………………”
Xét về phương diện thơ ca mà nói thì đây không phải là một bài thơ hay, thế nhưng nó đã chuyển tải được một ít thông tin liên quan đến thân thế của Ngài Huyền Trang. Thứ nhất, từ khi mới hạ sinh đã gặp bất hạnh, trải qua tôi luyện trong tai nạn, nhận lãnh những tai nạn cực khổ mà người thường không thể tưởng tượng được. Thứ hai, phụ thân của Ngài là Trạng nguyên họ Trần của vùng Hải Châu, và ông ngoại là tổng quản triều chính, là một nhân vật có chức vụ tương đương với thừa tướng.

Trong Tây Du Ký, chỉ có ở hồi thứ mười một mới thấy xuất hiện một đọan vô cùng đột ngột liên quan đến thân thế của Ngài Huyền Trang. Độc giả cũng có thể cho rằng có lẽ mình đọc không kĩ, cho nên đã để quên mất những đọan nói về tiền thân của Ngài, liền lật trở lại phía trước mong tìm được những đọan nói rõ về nhân quả của Ngài như thế nào, thế nhưng lại tìm không thấy. Bởi vì trong nguyên bản của Tây Du Ký không có nói về phần này. Chỉ có trong bản Tây Du Ký của Nhà xuất bản văn học nhân dân, giữa hồi thứ tám “Phật Tổ Tạo kinh truyền Cực lạc, Quan Âm phụng chỉ đến Trường An” và hồi thứ chín “Thủ thành họ Viên vô tư tính toán như thần, Long vương cố ý  tính sai vi phạm luật trời”, thì vô cùng bất ngờ chen vào một phần phụ lục.  Đây là do lúc bấy giờ khi chỉnh lý bộ tiểu thuyết này, các vị học giả đã đặc biệt dụng tâm đưa vào, bởi vì các vị đó phát hiện trong Tây Du Ký, đối với thân thế của ngài Huyền Trang không thấy đề cập tới, mà đột nhiên ở hồi thứ mười một lại xuất hiện một đọan như thế, làm cho người đọc không thể nào lý giải được, vì thế nên mới lấy một đọan lớn trong một bản gốc khác của tiểu thuyết Tây Du Thủ Kinh chêm vào làm phụ lục.
 
 
 

Đọan phụ lục này có tiêu đề là “Trần Quang Nhị nhậm chức gặp tai nạn, Tăng Giang Lưu tìm mẹ, báo cừu ”. Trong tiêu đề xuất hiện hai nhân vật, một người gọi là Trần Quang Nhị, một người là “Giang Lưu Tăng”. Đọan phụ lục này rất hay là đã tường thuật vô cùng rõ ràng về Cha mẹ của ngài Huyền Trang, về thân thế và những tai nạn mà ngài Huyền Trang gặp phải, cũng như quá trình báo thù của ngài. Cũng không có gì nghi ngờ về sự sai khác rất lớn giữa truyền thuyết trong dân gian với sự thật mà lịch sử ghi chép lại, nhưng chúng ta cũng không có gì trở ngại khi bắt đầu từ đây một lần nữa kết hợp giữa tiểu thuyết với lịch sử để hiểu về thân thế của Ngài Huyền Trang.
Trong đọan phụ lục này đề cập đến, vào năm Trinh Quán thứ 13 (năm 639), Đường Thái Tông Lý Thế Dân tiếp nhận đề nghị của Ngụy Trưng trương bảng chiêu hiền, phổ cáo chiêu mộ hiền tài khắp trong thiên hạ đến phụ giúp nhà vua kiến tạo cơ nghiệp nhà Đường.

Tin tức chiêu hiền truyền tới Hải Châu. Tại Hải Châu có một nho sinh trẻ tuổi gọi là Trần Ngạc, tự Quang Nhị, chính là thân phụ của ngài Huyền Trang. Nho sinh họ Trần ở Hải Châu nhìn thấy công văn chiêu hiền của Đường Thái Tông, sau khi về nhà liền nói với thân mẫu rằng: “Con là người đọc sách Thánh hiền, muốn lên kinh ứng thí. Nếu như may mắn khảo trúng thì sẽ làm vinh hiển tổ tông, mà sau này vợ con cũng được cậy nhờ”. Đây là một niềm tin vô cùng điển hình của truyền thống Nho học Trung Quốc. Trương thị - Mẹ của Trần Quang Nhị là người xuất thân nho gia, nghe con nói như vậy đương nhiên vô cùng ủng hộ cho lý tưởng cao đẹp của con, vì vậy Trần Quang Nhị lập tức lên đường đi đến kinh đô Trường An tham gia ứng thí.

Căn cứ theo suy nghĩ của truyền thống dân gian thì cũng không khó để thấy được rằng: thứ nhất, Trần Quang Nhị sẽ thi đỗ một trăm phần trăm; thứ hai, anh ta sẽ thi đỗ Trạng Nguyên, và nhất định sẽ do Đường Thái Tông ngự bút phê chuẩn. Đây chính là trong hồi thứ mười một có nói “Hải Châu Trần trạng nguyên”. Theo chế độ khoa cử của Trung Quốc thì người đỗ đầu gọi là Trạng Nguyên, người đỗ thứ hai gọi là Bảng Nhãn, người đỗ thứ ba gọi là Thám Hoa. Y theo chế độ nghi lễ của triều đình thì họ đều cỡi ngựa đẹp, mang áo mão cân đai đi diễu hành trong kinh thành. Lúc bấy giờ Trần Quang Nhị đang còn độc thân, chưa có đính hôn, là một thanh niên anh tài tuấn tú, vì thế lần đi diễu hành trong thành này đã làm phát sinh một cuộc tình duyên rất đẹp.

Nói một cách thông thường, Trần trạng nguyên trên đường diễu hành đương nhiên không phải không có mục đích. Anh ta đi thế nào không biết, liền tới ngay trước cửa của phủ thừa tướng đương triều Ân Khai Sơn. Trong nhà Đoàn thừa tướng có một vị tiểu thư gọi là Ôn Kiều. Theo Tây Du Ký miêu tả thì vị tiểu thư này “Mặt như trăng tròn, mắt tựa hồ thu, miệng như anh đào, dáng tợ liễu xanh”, thật đúng là “dung nhan chim sa cá lặng, vóc người nguyệt thẹn hoa nhường”, đúng là “Hoa cười ngọc thốt đoan trang, mây ghen đua thắm liễu hờn kém xanh”. Vị tiểu thư này còn có tên gọi là Mãn Đường Kiều, cũng có nghĩa là mọi vẻ đẹp trong phủ thừa tướng đều tập trung vào vị tiểu thư này. Nếu như bình nhật vị tiểu thư này luôn ở trong nhà, lầu cao cửa kín thì Trần trạng nguyên đi dạo trong thành làm sao nhìn thấy cô ta đuợc. Thế nhưng, thật vô cùng trùng hợp là hôm đó Ân tiểu thư đang làm lễ ném cầu chọn chồng, và đương nhiên tin tức về trang nguyên di dạo trong thành thì thừa tướng cũng đã nói cho Ân tiểu thư biết trước rồi. Vì thế hôm ấy Ôn Kiều tiểu thư trang điểm lộng lẫy đứng trên lầu cao đợi trạng nguyên cỡi ngựa đi qua.

Sự thật trong lịch sử, thân phụ ngài Huyền Trang là một người dung mạo phi phàm, cốt cách đoan chính. Theo sách Đại Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện ghi lại thì thân phụ ngài Huyền Trang “thân cao tám thước, mắt phượng mày ngài”. Căn cứ vào thước đo bây giờ ccủa chúng ta thì thân phụ của ngài Huyền Trang cao hơn 2,6 mét, còn cao hơn so với vận động viên bóng rổ bây giờ. Đương nhiên như vậy là không đúng, bởi vì cách tính số đo của người xưa khác với chúng ta bây giờ, thế nhưng miêu tả về hình dáng thì không thể sai được. 
Nhìn thấy một tân trạng nguyên khôi ngô tuấn tú như vậy, đương nhiên Ân tiểu thư trong lòng đã thầm thích, bèn cầm trái cầu nhắm ngay Trần Quang Nhị mà ném xuống, Trần Quang Nhị ngẩng đầu liền thấy ngay Ân tiểu thư, vậy là lương duyên thành tựu. Ngay lúc ấy mười mấy người tỳ nữ từ trong phủ thừa tướng chạy ra đứng chặn trước ngựa của Trần Quang Nhị, sau đó dẫn cả đòan người ngựa vào trong phủ thừa tướng, ngay hôm đó lập tức bái đường thành thân. Câu chuyện về đêm động phòng hoa chúc, tân khoa trạng nguyên cưới được con gái thừa tướng trở thành một câu chuyện truyền thuyết ly kì về những mối lương duyên tiền định.

Đến đây, tin tức liên quan đến thân thế của ngài Huyền Trang đã xuất hiện bốn yếu tố: thứ nhất là năm ra đời của ngài, có thuyết cho rằng đó là năm Trinh Quán thứ 13 (mười ba), tức là năm thành hôn của phụ thân Ngài; thứ hai, ngài Huyền Trang còn có bà nội, tức là thân mẫu của Trần Quang Nhị, họ Trương; thứ ba ông ngoại của ngài Huyền Trang là thừa tướng đương triều; thứ tư, mẫu thân của ngài Huyền Trang tên là Ân Ôn Kiều.
Trong tiểu thuyết Tây Du Ký miêu tả thân phụ của Ngài Huyền Trang là tân khoa trạng nguyên “mày thanh mắt tú”, còn mẫu than ngài là ái nữ “eo tằm mày liễu” của thừa tướng đương triều. Vậy thì trong sự thật lịch sử ngài Huyền Trang xuất thân như thế nào? Thân thế thật sự của ngài với truyền thuyết hòan toàn khác nhau hay là có những điểm tương đồng? 
Căn cứ theo ghi chép của lịch sử thì thân thế của ngài Huyền Trang cùng với truyền thuyết vừa nói ở trên có sự sai biệt rất lớn.
Trước hết, ngài Huyền Trang đích xác là xuất thân danh gia vong tộc, tổ tông nguyên quán ở Dĩnh Xuyên, ngày nay là Huyện Hứa Xương ở tỉnh Hà Nam. Lại nữa ngài Huyền Trang chính xác là con em của dòng họ danh môn, theo lịch sử ghi chép lại thì thế hệ của ngài Huyền Trang là hậu duệ của Thái binh lịnh Trần Trọng Cung thuộc gia tộc họ Trần ở Dĩnh Xuyên cuối đời nhà Hán. Cao Tổ của ngài Huyền Trang là Trần Trạm, làm thái thú của đất Thanh Hà thời Bắc Ngụy. Ông Cố của Ngài là Trần Khâm, còn gọi là Trần Sơn, là Chinh Đông tướng quân, Thượng đảng Thái thú thời Bắc Ngụy, được phong là Nam Dương quận khai Quốc Công. Ông nội của ngài Hhuyền Trang là Trần Khang, nhân vì học học giỏi, làm quan ở Bắc Tề, làm đến chức Quốc tử học sĩ, Quốc tử ty nghiệp và Lễ bộ thị lang, tương đương với phó hiệu trưởng của Đại học Quốc gia bây giờ, tuy không bằng chức Lễ bộ thị lang như cách gọi của đời nhà Thanh, nhưng nhất định là một chức quan rất cao quý và có danh vọng.
Đến đời Trần Khang, Trần gia từ Hứa Xương di chuển về Yển Sư Hầu Thị Huyện, Ngài Huyền Trang ra đời ở đây, chính là ngày nay thuộc thôn Trần Hà ở phía đông của Phượng Hòang Hà Cốc thuộc Trấn Hầu Thị. Phụ thân của ngài Huyền Trang tên là Trần Huệ, hòan toàn không phải là trạng nguyên, nhưng ông ta là một nho sinh có trình độ xuất chúng, từng được cử Hiếu Liêm, làm Huyện lịnh Huyện Trần Lưu ở Giang Lăng. Cũng đến đời của thân phụ ngài Huyền Trang thì trên thực tế Trần gia đã từ quan chức thượng đẳng hạ xuống tầng lớp trung đẳng, gia đạo bắt đầu đi xuống. Ông ngoại của ngài Huyền Trang hòan toàn không phải là thừa tướng mà chỉ là trưởng sử Lạc Châu, tức cũng thuộc quan chức địa phương. Mẫu thân của ngài là Tống Thị, chính là con gái của trưởng sử, tuy không phải là con gái của thừa tướng nhưng cũng là tiểu thư của quan viên địa phương. Còn Bà nội của ngài Huyền Trang thì không thấy ghi chép, chẳng biết có phải là Trương thái phu nhân như trong tiểu thuyết ghi lại hay không? Đây là phần sự thật lịch sử liên quan đến thân thế của ngài Huyền Trang. 
Như vậy trong tác phẩm Tây Du Ký miêu tả về song thân của Ngài Huyền Trang thật ra là có một phần dựa vào sự thật, chỉ có điều là sử dụng nghệ thuật hư cấu thêm nhiều tình tiết mà thôi. Thế nhưng nói về năm sinh của ngài Huyền Trang thì trong Tây Du Ký hòan toàn không đúng, vậy thì trong sự thật lịch sử, thì ngài Huyền Trang ra đời vào năm nào?
Trần Quang Nhị sau khi thi đỗ trạng nguyên, kết duyên với Ân tiểu thư, căn cứ theo năm đó Ân tiểu thư mang thai mà tính thì ngài Huyền Trang ra đời vào năm Trinh Quán thứ 13 (mười ba) (năm 639). Theo truyền thuyết của dân gian thì như vậy, có thể đem việc ném cầu kén chồng ghi chép một cách tường tận, nhưng mức độ tinh xác thì luôn luôn có những thêm bớt rất lớn. Sự thật thì thuyết về năm sinh của ngài Huyền Trang như trong tiểu thuyết là hòan toàn không đúng. Trong lịch sử, về năm tháng ra đời của ngài Huyền Trang ở đây cần phải một phen khảo chứng.
Ngài Huyền Trang ra đời năm nào chúng ta không biết được, bởi vì lúc bấy giờ ngài chỉ là con trai của một huyện lịnh, vả lại thân phụ ngài lại qua đời rất sớm. Thế nhưng khi ngài Huyền Trang viên tịch thì Ngài đã là một vị Cao Tăng danh tiếng lừng lẫy khắp cả Trung Quốc, là nhân vật được mọi người kính ngưỡng, vì vậy năm viên tịch của Ngài chúng ta có thể biết được một cách chính xác. Trừ phần “Bản truyện” trong sách “Cựu Đường Thư”, tất cả các sách đều nói Ngài Viên tịch vào đời Đường Cao Tông, niên hiệu Lân Đức nguyên niên (664). Nếu như chúng ta biết được Ngài hưởng thọ bao nhiêu tuổi thì chúng ta có thể tính ra được năm ra đời của Ngài. Thế nhưng thật là không may, đó là tuy có nhiều tài liệu lịch sử ghi chép liên quan đến ngài Huyền Trang, nhưng liên quan đến tuổi thọ của Ngài thì đến nay có tới bốn thuyết khác nhau. Thuyết thứ nhất cho rằng Ngài thọ 56 tuổi; thuyết thứ hai cho rằng Ngài thọ 63 tuổi; thuyết thứ ba cho rằng Ngài thọ 65 tuổi và thuyết thứ tư cho rằng Ngài thọ 69 tuổi. Mỗi thuyết đềi có những chứng cứ nhất định của mình, và nhất là đều được những học giả nổi tiếng như Lương Khải Siêu v.v ủng hộ, như thế càng làm cho vấn đền thêm phức tạp. Hiện nay giới học giả phần nhiều cho rằng ngài Huyền Trang hưởng thọ 65 tuổi, như vậy mà tính thì Ngài sinh năm 600. Và đương nhiên không phải là năm Trinh Quán thứ 13, và càng không phải là ngài sinh vào đời nhà Đường mà là sinh vào năm Khai Hoàng thứ 20 niên hiệu Văn Đế của hoàng đế khai quốc Nhà Tùy.
Thân phụ của ngài Huyền Trang là Trần Huệ, vì thấy nhà Tùy triều chính hủ bại nên đã sớm từ quan về nhà. Nhân vì ông ta rất giỏi về kinh điển Nho gia cho nên sau khi từ quan về nhà ông đã đích thân dạy ngài Huyền Trang học tập kinh điển Nho gia. Ngài Huyền Trang ngay từ nhỏ đã tỏ ra là một đứa trẻ vô cùng thông minh, hiếu học. Có một lần phụ thân ngài giảng cho ngài nghe về Hiếu kinh (Lúc bấy giờ, rất nhiều gia đình danh môn vọng tộc dạy dỗ con cái học tập đều bắt đầu bằng Hiếu kinh), khi giảng đến chỗ Tăng tử rời chiếu trả lời câu hỏi của Khổng Tử trong chương thứ nhất “Chương Khai Tông Minh Nghĩa”:

“Trọng Ni (Khổng Tử) ngồi, Tăng tử ngồi hầu bên cạnh. Khổng Tử hỏi “Các bậc tiên vương dùng đức để làm đạo trị thiên hạ, vì thế mà trăm họ hòa kính, thiên hạ không ai óan hờn, con có biết việc đó không?”. Tăng tử rời chiếu trả lời “Sâm này (Tăng tử tên là Sâm, thường gọi là Tăng Sâm) kém cõi, làm sao biết được việc đó.”
Tăng tử là một học trò của Khổng tử, người xưa thường trải chiếu dưới đất để ngồi, rời chiếu tức là đứng dậy, không ngồi trên chiếu. Theo phép lễ nghi thì khi Thầy hỏi, học trò cần phải rời chiếu (đứng dậy) để trả lời. Lúc bấy giờ khi nghe thân phụ giải thích ý nghĩa của đọan đó xong, Ngài Huyền Trang lúc đó là đứa trẻ Trần Huy khỏang bảy, tám tuổi lập tức đứng dậy, phụ thân ngài cảm thấy vô cùng ngạc nhiên, ngài Huyền Trang lúc ấy liền nói: “Ngài Tăng tử nghe Đức Khổng Tử hỏi nên đứng dậy, con nay đang thọ nhận giáo huấn của cha, lẽ nào con dám ngồi sao?”. Đọan đối thoại này đã được sách sử ghi chép lại, chứng minh ngài Huyền Trang đúng là “nghe một hiểu mười”, trí tuệ sớm đã như vậy.

Trở lại Tây Du Ký hồi thứ mười một, tại sao đột nhiên nói đến ngài Huyền Trang trải qua tai nạn, lại dùng những câu thơ vô cùng bi thiết, thậm chí làm cho người đọc có cảm giác bất an để miêu tả sự ra đời của Ngài Huyền Trang? Phần này trong lịch sử chân thật không thấy ghi chép lại, nhưng những ghi chép theo truyền thuyết trong dân gian thì phần phụ lục giữa hồi thứ tám và hồi thứ chín trong Tây Du ký có đề cập tới.
Phần phụ lục giữa hồi thứ tám và hồi thứ chín trong Tây Du Ký ghi rằng: Phụ thân ngài Huyền Trang thi đỗ trạng nguyên, lại được con gái của thừa tướng đương triều ném cầu trúng thân, như vậy là vừa được kim bảng đề danh lại còn cưới được vợ đẹp, đúng là thời vận đã tới. Sang ngày hôm sau, Vua Đường Thái Tông liền triệu tập quan viên đến bàn việc triều chính, phong cho tân trạng nguyên làm chức tổng đốc Giang Châu, ra lệnh phải lập tức lên đường nhậm chức. Trần trạng nguyên sau khi tiếp nhận thánh chỉ liền dẫn vợ mới cưới là Ân tiểu thư trở về quê nhà ở Hải Châu để đón mẹ là Trương thái phu nhân cùng đi. Trương thái phu nhân thấy con cưới được thiên kin tiểu thư dung nhan xinh đẹp, lại còn thi đỗ trang nguyên trở về làm rạng rỡ tông môn thì vô cùng vui mừng, liền lập tức thu xếp hành lý cùng với con trai và con dâu mới cưới và mấy người nô bộc lên đường thẳng về Giang Châu. Và câu chuyện phụ thân ngài Huyền Trang trên đường nhậm chức gặp tai nạn, chuyện ngài Huyền Trang ra đời gặp tai nạn trong truyền thuyết của dân gian bắt đầy từ đây. 

Lại nói Trương lão phu nhân đi cùng con trai và nàng dâu trên đường thiên lý, đi ngang qua địa phương gọi là Vạn Hoa Điếm, đòan người vào nghỉ trong một quán trọ, chủ quán trọ này gọi là Lưu Tiểu Nhị. Trương lão thái thái do vì đi đường xa mệt mỏi nên lâm bệnh, vì thế tạm nghỉ ở quán trọ. Trần trạng nguyên là một người con hiếu đạo, thấy mẫu thân lâm bệnh nên vô cùng lo lắng, liền vào chợ dùng một quan tiền mua một con cá chép màu vàng để chuẩn bị nấu canh nhằm bồi dưỡng thân thể cho thân mẫu có sức khỏe để tiếp tục lên đường. Ngay lúc chuẩn bị đem con cá làm thịt thì bỗng nhiên thấy con cá chép vàng ấy giương đôi mắt chớp chớp liên tục nhìn thẳng vào Trần Quang Nhị, Trần trạng nguyên là người học rộng hiểu nhiều, lập tức nghĩ tới câu nói của người đương thời gọi là “Cá, rắn chớp mắt, nhất định không phải là vật bình thường”, nên cảm thấy con cá này không phải là con cá bình thường, liền lập tức hỏi người bán cá rằng con cá này bắt được ở đâu. Người bán cá trả lời là con cá này bắt được ở gần sông Hồng Giang, Trần trạng nguyên nghe xong liền đem con cá đến sông Hồng Giang phóng sanh. Một lát sau trở về quán trọ của Lưu Tiểu Nhị kể lại sự việc cho thân mẫu nghe. Trương lão phu nhân nghe xong thấy con mình có lòng từ bi, trong lòng vô cùng hoan hỷ. Sau đó Trương lão thái thái mới bàn với Trần Quang Nhị là không nên làm lỡ lịch trình đến Giang Châu nhâm chức, hay là cứ đem Ôn Kiều đi trước, sắp xếp để bà ở lại tửu điếm an tâm dưỡng bệnh, đợi hai người sau khi đến Giang Châu ổn định xong thì phái người đến đón bà về cũng không muộn. Trần Quang Nhị liền nghĩ đây cũng là một biện pháp tốt, liền theo lời của Trương thái thái, sau khi sắp xếp ổn thỏa về phí dụng, chổ ở cho mẹ xong rồi, liền cùng vợ mới cưới là Ân tiểu thư cùng người tùy tùng lên đường đến Giang Châu nhậm chức.

Nào ai ngờ được chuyến đi này đưa đến một tai họa lớn.

Trần Quang Nhị cùng vợ đi đến bến đò ở sông Hồng Giang, đúng lúc nhìn thấy hai người chèo thhuyền, một người tên là Lưu Hồng, một người tên là Lý Bưu, cả hai người này lấy nghề đưa đò làm kế kinh nhai. Nhìn thấy sắc đẹp lộng lẫy của Ân tiểu thư, Lưu Hồng liền động tà tâm, thừa lúc đêm tối, gió lớn, khi thuyền vừa đến giữ dòng, hai gã chèo đò liền bắt người hầu của trần Quang Nhị giết đi, sau đó bắt Trần Quang Nhị đánh cho đến chết, rồi đem thi thể của hai người ném xuống dòng sông Hồng Giang. Tận mắt nhìn thấy chồng bị kẻ bất lương giết hại, Ân tiểu thư chỉ muốn gieo mình xuống sông tự vận, Lưu Hồng sớm đã để ý đến Ân tiểu thư, đương nhiên sẽ không để cho nàng nhảy xuống sông tự vận, liền lập tức ôm lấy Ân tiểu thư và nói: “Nếu nàng theo ta thì mọi việc kết thúc, còn nếu kkhông theo thì chỉ một dao làm hai là xong”. Đoạn đối thoại này căn cứ theo thói quen về ngôn ngữ hiện tại thì dường như có chút gì đó kì lạ, sự thật là đìều uy hiếp Ân tiểu thư chính là sự khác thường trên cơ thể của nàng, bởi vì lúc bấy giờ Ân tỉểu thư đã mang thai, vì vậy bất đắc dĩ nàng đành phải giả vờ đồng ý nghe theo lời của Lưu Hồng.
Trong hai tên chèo đò, Lý Bưu thật sự chính là một tên đạo tặc bình thường. Sau khi giết chết Trần Quang Nhị và người hầu, y đã phân chia một ít của cải cướp được, lấy thêm mấy bộ áo quần, rồi cứ ở bến đò tiếp tục chờ tìm đối tượng khác để cướp. Thế nhưng Lưu Hồng lại là một tên đạo tặc khác thường, sau khi giết chết Trần Quang Nhị và người hầu, đe dọa Ân tiểu thư, y liền lấy áo mão cân đai của Trần Quang Nhị mặt vào, lấy công văn bổ nhiệm nhậm chức, giả mạo là Trần Quang Nhị rồi đem theo người vợ đang mang thai của tân trạng nguyên lên đường đi Giang Châu nhậm chức, làm tổng đốc Giang Châu.
 Trần Quang Nhị sau khi bị ném vào dòng Hồng Giang thì như thế nào? Ân tiểu thư sinh hạ ngài Huyền Trang có được mẹ tròn con vuông? Ngài Huyền Trang báo thù cho cha mẹ như thế nào? Xin mời quý vị xem phần hai “Quy y cửa Phật".

 

Thích Minh Đức soạn dịch

Các bài viết khác

Hoạt động
Phật Sự

Trợ Duyên

    Thống kê

    Tổng lượt truy cập7300090
    Đang truy cập40
    logo footer

    CHÙA HẢI QUANG
    71/13 NGUYỄN BẶC (Khu Chợ Phạm Văn Hai ), P.3, Q.Tân Bình,TP. HCM
    Điện thoại: 08.3.842.0597 - 08.3.991.6689
    Bản quyền thuộc về Chùa Hải Quang